1

Thứ 2, 26/06/2017

Quay về Bạn đang ở trang: Home Chính trị - Xã hội Cuộc gặp gỡ bất ngờ

Cuộc gặp gỡ bất ngờ

Cuộc gặp gỡ bất ngờ với người “cùng chiến hào” chinh phục trái tim hai cô gái, là chị em ruột của mảnh đất Bình Ngọc (Móng Cái, Quảng Ninh) đã thu hút sự chú ý của chúng tôi trong lần tiếp chuyện cùng Thiếu tá Võ Duy Khoái, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Phù Liễn - nguyên chiến sĩ Đại đội 2 (Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, mặt trận Tây Nguyên). Ông là người trực tiếp tham gia chiến đấu đánh chiếm khu gia binh và Sư đoàn 23 của Ngụy, mở đầu cho Chiến dịch Tây Nguyên và giải phóng Buôn Ma Thuột.cggbnnnnn



cggbnnnnn

CCB Võ Duy Khoái (ngoài cùng bên trái) chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu nhân dịp kỷ niệm 70 năm thành lập Trung đoàn 24 năm 2016.

 

Ở vào cái tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng trông ông vẫn tráng kiện, trẻ trung, với cách nói chuyện “có lửa”, thi thoảng ông cao hứng đứng dậy, vừa kể, vừa diễn lại hành động của mình tại chiến trường, khiến mọi người chăm chú lắng nghe. Sinh năm 1946 tại quê hương Trạng Trình (xã Tiền Phong, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng), năm 1971 người thanh niên Võ Duy Khoái lên đường nhập ngũ khi đã tích lũy khá nhiều kinh nghiệm sống, vì trước đó ông là sinh viên Trường Cơ Điện Thái Nguyên, rồi làm công nhân.


Ông Võ Duy Khái kể: Tháng 1-1971, tôi nhập ngũ, huấn luyện tại Trung đoàn 42 ở Đông Triều (Quảng Ninh), sau mấy tháng huấn luyện được nghỉ tranh thủ qua nhà mầy hôm để chuẩn bị lên đường vào Nam chiến đấu. Vì là con một, mà cuộc chiến đang diễn ra rất ác liệt, sợ con đi không trở về, nên cả nhà muốn tôi lấy vợ trước lúc vào Nam. Đám cưới với cô bạn cùng lớp 7 diễn ra chóng vánh, nhưng ngay sau đêm tân hôn, tôi được lệnh lên đường. Vợ chồng chở nhau bằng xe đạp sang Bến Bính khoảng hơn 4 giờ chiều. Những người đưa tiễn không được lên phà, tôi vơ cuốn sổ của vợ viết vội 4 câu thơ: “Chiều về lảng vảng bóng hoàng hôn/Trên bến phà ngang khách bước dồn/Em đứng bên bờ sông Bến Bính/Chạnh lòng nghĩ đến cảnh cô đơn”. Lúc đó, vợ tôi mắt đỏ hoe, chúng tôi không dám nhìn nhau lâu...


Trở về Trung đoàn 42, chúng tôi nhanh chóng chuẩn bị quân trang, quân dụng để hôm sau hành quân đi Nam Sách (Hải Dương), rồi lên tàu vào Nam. Cùng chuyến tàu vào Nam với chúng tôi có chú Hợi (Trung tướng Phạm Quang Hợi - nguyên Tư lệnh Quân khu 3). Đến Quảng Bình, chúng tôi tiếp tục hành quân vòng sang Căm-pu-chia, qua Ngã ba Đông Dương thì dừng lại ăn Tết nguyên đán Nhâm Tý (1972). Tết trên đường đi chiến dịch không vui, nhưng khá đầm ấm, mỗi người được nửa điếu thuốc lá của Bác Tôn gửi tặng. Nỗi nhớ nhà quặn thắt nhưng đường ra trận khí thế đang hừng hực trong chúng tôi.


Năm 1972, trong đội hình của Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24, Sư đoàn 10), tôi tham gia giải phóng Dakto, Tân Cảnh. Đúng 15 giờ ngày 23-4-1972, pháo binh ta nã đạn dồn dập vào căn cứ Tân Cảnh, cứ điểm mạnh nhất của địch. 1 giờ sáng 24-4-1972, xe tăng T-54 tiến thẳng qua thị trấn Tân Cảnh, lao lên mở cửa phía Đông căn cứ. 5 giờ 55 phút ngày 24-4-1972 ta chiếm được thị trấn Tân Cảnh. Giải phóng xong Dakto, Tân Cảnh, tại đây tôi gặp anh Hưởng (Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng - Anh hùng LLVT nhân dân, nguyên Tư lệnh Binh chủng Tăng - Thiết giáp, nguyên Tư lệnh Quân khu 4) lúc đó đang là Đại đội trưởng Xe tăng 9. Thời điểm đó, đơn vị anh Hưởng ở bên kia sông, còn đơn vị tôi bên này sông, hai bên thường giao lưu bóng chuyền vào các buổi chiều.


- Khi ngồi tâm sự với nhau, tôi hỏi anh Hưởng: Ông quê ở đâu?


- Hưởng đáp: Tôi quê ở Bình Ngọc (Móng Cái, Quảng Ninh).


- Tôi bấm bụng, mừng thầm vì người yêu tôi cũng ở đó. Tôi hỏi tiếp: Có biết cô giáo Khái, Trường cấp 1 Bình Ngọc, quê Quảng Yên không?


- Hưởng tủm tỉm móc trong túi áo lá thư: Đây! thư của Khái đây. Cô ấy là người yêu của tôi đấy- bố ạ!


- Tôi ôm chầm lấy anh Hưởng: Ngày trước tôi yêu Mãi (em gái của Khái đấy). Tôi và Mãi quen nhau trong một lần tham gia liên hoan văn nghệ, rồi yêu nhau từ dạo đó. Mãi có khoe với tôi là có chị gái tên là Khái dạy học ở Trường cấp 1 Bình Ngọc... Từ khi ấy, tôi và anh Hưởng gặp nhau luôn, rồi thân nhau như anh em một nhà.


Đến khi chuẩn bị đánh trận mở màn giải phóng Buôn Ma Thuột, chúng tôi được phổ biến là Tiểu đoàn 4 cùng các đơn vị phối thuộc có xe tăng yểm trợ. Khoảng 12 giờ đêm ngày 09 rạng 10-3-1975, Tiểu đoàn tôi được lệnh tấn công. Hai ổ đề kháng của địch bố trí trên đồi được trang bị đại liên chống trả quyết liệt. Trận này, đơn vị tôi tổn thất khá lớn. Chúng tôi chia làm nhiều mũi tiến công, trong đó Trung đội 2 do tôi làm Trung đội trưởng cơ động tạt bên sườn cụm hỏa lực địch. Trong tích tắc, không hiểu sao tiếng súng địch ngắc ngứ, thế là mũi của tôi vọt lên trước và vòng đúng ngay phía sau lưng cụm hỏa lực của địch (phía trên còn một ổ đề kháng nữa). Lúc ấy, Trần Minh Sung vác khẩu B40 định bắn vào cụm hỏa lực địch, may mà tôi kịp gạt tay súng của Sung không cho bắn vì nếu bắn thì bức tường ở phía sau lưng sẽ giết chết chúng tôi. Sung nhanh trí vơ vội hòn đá khoảng bằng cái tích nhỏ, ném thẳng vào đầu tên địch ôm khẩu đại liên làm chúng quay đơ, tôi bồi thêm cho mấy tên bên cạnh băng AK, tiêu diệt gọn điểm hỏa lực của địch (từ hành động đó, sau này Trần Minh Sung được tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, nhưng đáng tiếc khi tham gia chiến đấu tại Căm - pu - chia, anh ấy đã hy sinh). Tiêu diệt xong cụm này, chúng tôi quay nòng đại liên nã đạn dập tắt cụm hỏa lực phía trên đồi. Lúc đó, các mũi tiến công của đơn vị mới ào lên chiếm lĩnh toàn bộ khu gia binh (khu truyền tin và khu vận tải của địch).


Chiều hôm ấy, đơn vị tôi đang làm công tác ổn định đội hình thì đột nhiên anh Hưởng xuất hiện. Lúc đó tôi mới biết Đại đội xe tăng được tăng cường cho đơn vị tôi chính là Đại đội xe tăng 9 của anh Hưởng. Biết chúng tôi chiếm tổng kho Mai Hắc Đế, anh Hưởng ghé sát tai tôi thì thầm: Khoái ơi! Mày lấy cho tao ít sữa. Tôi thủng thẳng: Sữa phật mập á? Có mà đầy. Hưởng tiếp: Tăng bo cho bọn tao ít chứ đói lắm... Thế là chúng tôi cấp thêm cho đại đội xe tăng ít sữa hộp và một số nhu yếu phẩm mà anh em cần để cùng nhau đi tiếp, đánh tiếp.


Tối 10-3-1975, Đại đội 2 được tăng cường đủ 120 cán bộ, chiến sĩ để hôm sau tiến đánh vào đại bản doanh Sư đoàn 23 (Sư đoàn thép của địch). 6 giờ sáng ngày 11-3-1975, các đơn vị binh chủng hợp thành của ta từ ba hướng mở trận công kích vào sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy. Trên đường tiến công, được sự yểm trợ của xe tăng, chúng tôi bám theo vỉa hè để cơ động. Đang trên đường cơ động, bỗng chân tôi bị giật lại. Cánh tay thằng lính ngụy lộ ra, lập tức tôi quay đầu súng dùng lưỡi lê tiêu diệt tên địch dưới hầm ngầm... Trong cơn tuyệt vọng, bọn địch cố dồn sức chống đỡ. Máy bay địch ném bom xuống đường phố. Xe tăng M48, M41 của địch liều mạng xông ra bịt các ngả đường, đúng 11 giờ cùng ngày, sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy bị tiêu diệt. Đại tá Vũ Thế Quang, Phó Sư đoàn trưởng, Sư đoàn 23 địch và Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tiểu khu trưởng Đắk Lắk bị bắt. Cờ Mặt trận dân tộc giải phóng được kéo lên trên cột cờ cao nhất của Sư đoàn 23 địch. Trận then chốt, mở đầu Chiến dịch Tây Nguyên kết thúc thắng lợi sau 32 giờ tiến công mãnh liệt.

                                    Bình Minh (ghi theo lời kể của ông Võ Duy Khoái)