1

Chủ nhật, 19/11/2017

Quay về Bạn đang ở trang: Home Chính trị - Xã hội Đổi thay ở miền biên viễn

Đổi thay ở miền biên viễn

dttdlhtAi đã từng đến, đi rồi trở lại với vùng biên viễn Quảng Ninh hôm nay, chắc hẳn đều có cảm nhận rõ nét về sự “thay da, đổi thịt” không chỉ về kinh tế, quốc phòng mà còn là sự chuyển động sâu sắc về môi trường văn hóa... Để có được thành quả đó, cán bộ, chiến sĩ của Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 327 (KT-QP 327) đã góp phần không nhỏ vào việc vận động bà con các dân tộc trên địa bàn đẩy lùi các hủ tục văn hóa, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, xây dựng vùng biên cương ngày càng giàu đẹp.


“Mưa dầm thấm lâu”


Đại tá Lê Công Thảo, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Đoàn KT-QP 327 trò chuyện với chúng tôi về quá trình thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã trải lòng. “Muốn vận động bà con trước hết phải hiểu về họ, từ nét văn hóa, nếp sinh hoạt và học tiếng các dân tộc rồi “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” Với phương châm “mưa dầm thấm lâu”, các đơn vị của Đoàn đã dần từng bước làm thay đổi cách nghĩ, cách làm và một số nếp sinh hoạt còn lạc hậu, tạo nên một vùng biên cương trù phú như bây giờ. Thời gian đã giúp chúng tôi bước đầu thành công, tuy nhiên để làm thay đổi hẳn những nếp sinh hoạt còn lạc hậu đó, không phải một sớm, một chiều mà là cả một quá trình lâu dài, còn nhiều việc cần làm ở phía trước không cho phép chúng tôi bằng lòng”... Những chia sẻ “rút ruột” của Đại tá Thảo khiến chúng tôi thầm mến mộ và mường tượng đến những khó khăn, vất vả ban đầu mà các anh đã trải qua.


Đến Lâm trường 156, chúng tôi được Thượng tá Đặng Ngọc Linh, Giám đốc Lâm trường kể cho nghe câu chuyện về Trung tá Bùi Xuân Tam - nguyên Đội trưởng Đội 2 của Lâm trường, hiện đã nghỉ hưu. Năm 2007, ở bản Bắc Cương nơi Đội vườn ươm 2 đứng chân, có gia đình anh Chìu Quay Dẩu sinh đứa con gái thứ 4. Do tư tưởng trọng nam khinh nữ, không muốn nuôi đứa bé này nên người mẹ đang tâm không cho con bú, mặc kệ sự sống của đứa trẻ còn đỏ hỏn. Biết được thông tin này, lập tức anh Tam tìm đến nhà Chìu Quay Dẩu: “Tại sao mày không cho nó bú? Nó có tội tình gì đâu? Tội là do vợ chồng mày không biết kế hoạch mà sinh ra. Vợ chồng mày không nuôi thì để tao nuôi cho” (văn hóa xưng hô mày tao của đồng bào người Dao vẫn xuồng xã như vậy)... Nói rồi anh giơ tay định bồng đứa bé. Vợ Quay Dẩu ngăn lại không đồng ý. Anh Tam phải vận động mãi và đưa ra đề nghị được nhận cháu làm con nuôi, lúc ấy mới thuyết phục được người mẹ trẻ cho con bú. Và cứ thế, anh Tam liên tục đi lại nhà Quay Dẩu, mỗi lần đều mua quà cho bé. Năm nay, cháu bé đã lên 8 tuổi đang học lớp 2 trường làng.


dttdlht

Cán bộ, tri thức trẻ Lâm trường 42 (Đoàn KT-QP 327) giúp bà con di rời chuồng trại chăn nuôi ra xa nhà ở


Cũng tại bản này, nhưng ở khu dân cư Trình Tường, năm 2013, Trung úy QNCN Nguyễn Xuân Trường, nhân viên quân y của Đội Trình Tường, Lâm trường 156 lại phải vận động thuyết phục cả tiếng đồng hồ lúc nửa đêm để vợ của anh Doòng Sáng Sày không lên rừng đẻ một mình theo phong tục của người Dao. Những câu chuyện vận động bà con sinh đẻ có kế hoạch ở dọc tuyến biên giới này khó có thể quên. Thượng tá Vũ Văn Đắc, Bí thư Đảng ủy, Chính trị viên Lâm trường 103, kể: Có gia đình chúng tôi vào vận động: “Nhà mày đẻ 4 đứa rồi thì đẻ làm gì nữa, tập trung vào nuôi con khôn lớn sẽ tốt hơn và kinh tế gia đình sẽ khá giả hơn. Lập tức chúng tôi nhận được câu trả lời: Mày bảo tao đừng đẻ nữa, mày có cho tao cái gì không? Cũng bằng ấy gạo nuôi 4 đứa, tao chỉ thêm vào bát nước nữa là nó sống có gì đâu” ...


Những câu chuyện tương tự như vậy có ở khắp nơi trên dải biên cương này, ví như mắc bệnh thì mời thầy cúng, gia đình không có nhà vệ sinh, chuồng trại nuôi gia súc dưới gầm nhà hay sát nhà ở... vẫn là những vấn đề cần giải quyết.


Còn nhiều việc ở phía trước


Anh Tằng A Thân, Trưởng bản Mốc 13, xã Quảng Đức, huyện Hải Hà, cho biết: “Bản tôi hiện có 54 hộ, những hủ tục văn hóa đã được bà con hiểu và làm theo sự hướng dẫn của bộ đội. Kinh tế của bản chủ yếu là đồi rừng, nuôi trồng các loại cây, con có giá trị kinh tế cao theo các dự án của Lâm trường 103 hướng dẫn. Hiện cả bản có tổng số 160 con trâu, có hộ nuôi đến cả chục con, đàn lợn hàng trăm con; có gia đình trồng được cả chục ha rừng đặc dụng, trồng quế, hồi; 100% số hộ trong bản có ti vi, xe máy. Cả bản chỉ còn có 3 hộ chưa di dời chuồng trai ra xa khu nhà ở, nhưng mới chỉ có hơn chục hộ có nhà vệ sinh hợp chuẩn”. Được biết, xã Quảng Sơn, Quảng Đức (huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh) là 2 xã đặc biệt khó khăn, có khoảng 2.000 hộ dân, 90% là bà con dân tộc Dao Thanh y, các bản đều đã có điện lưới, hầu hết các hộ gia đình có ti vi, xe máy, 2 xã đạt từ 5-6 tiêu chí nông thôn mới, đại đa số hộ dân đã di dời chuồng trại ra xa khu nhà ở. Tuy vậy, vẫn còn 40% số hộ nghèo. Nói như Thượng tá Vũ Văn Đắc thì còn rất nhiều việc cần phải làm để tháo gỡ, giúp đồng bào thoát nghèo, đẩy lùi lạc hậu.


“Có những phong tục biết là lạc hậu, mất vệ sinh đấy nhưng nó lại ăn sâu vào tiềm thức người dân, muốn thay đổi cần phải có nhiều thời gian mới làm được. Ví như ở bản tôi, theo truyền thống, bà con thường lấy phân trâu tươi đem phơi khô, rồi đóng vào bao chất đống trong nhà. Họ quan niệm phân trâu khô là tài sản quý giá để bón cho lúa và hoa màu. Những trăn trở của Doòng Chống Lỷ, Trưởng bản Bắc Cương dường như trùng với những suy nghĩ của các cán bộ Lâm trường 156. “Chuyển giao khoa học kỹ thuật cho bà con phải cùng với việc xóa bỏ lối canh tác cũ, hướng dẫn bà con cách ủ mục phân chuồng, làm phân xanh phối hợp với bón phân vô cơ. Nhưng khi được trực tiếp hướng dẫn thì họ làm đúng không có mình họ lại theo thói quen cũ. Gặp hỏi tại sao thì họ bảo: Người Dao chúng tao sống được bao đời là nhờ nó, nên tao không bao giờ bỏ. Cái khó là ở chỗ đó” - Thượng tá Đặng Ngọc Linh chia sẻ. Được biết, hiện tại bà con đã tìm đến Bệnh xá của Lâm trường, hay đi mua thuốc khi ốm đau, không còn tìm thầy cúng nữa. Nhiều dự án dành cho bà con được các lâm trường triển khai để xóa đói, giảm nghèo đã phát huy được hiệu quả. Ví như, năm 2005, hộ gia đình anh Nguyễn Văn Cảnh ở bản Cao Lan, xã Bắc Sơn, thành phố Móng Cái đã được Lâm trường 42 cấp 7 con lợn rừng giống và hướng dẫn cách chăm sóc. Đến nay, đàn lơn đã phát triển hàng trăm con, có thời điểm lên đến 250 con, mỗi năm cho thu từ 300 - 400 triệu đồng. Gia đình đã mạnh dạn nhân giống cung cấp cho bà con trong vùng nuôi thương phẩm. Thiếu tá Phạm Ngọc lãm, Trợ lý dân vận của Lâm trường 155 khoe với chúng tôi về việc triển khai dự án trồng cây ăn quả ở Phai Lầu (xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh): “Đây là dự án chuyển đổi mà chúng tôi đang triển khai ở Phai Lầu, 1 ha cây ăn quả được trồng xen kẽ với cây lấy gỗ và trồng cỏ voi để phát triển chăn nuôi trâu bò dê. Lâm trường hỗ trợ dân cả giống vốn, phân và vừa hướng dẫn, vừa hỗ trợ ngày công đào hốc trồng, được bà con tích cực hưởng ứng”. Chia sẻ niềm vui được chọn làm thí điểm của dự án, anh Hoàng Văn Điệp, bản Phai Lầu, cho biết: “Đất nhà tôi trồng keo đã nhiều năm giờ thấy hiệu quả kinh tế kém, rất may gia đình tôi được Lâm trường giúp, tôi tin rằng với các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao và nguồn cỏ để phát triển chăn nuôi sẽ cho gia đình chúng tôi phát triển kinh tế hộ bền vững trong tương lai”.

                                                                                                THÁI THỤY


 

dcttkn70ctvnn