0985.456.616

thứ 7, 18/08/2018

73ncmt8vqk29

Home Chính trị xã hội Xứ Mường sôi nổi những ngày đánh Tây

Xứ Mường sôi nổi những ngày đánh Tây

Trong ký ức của họ, phần nhiều là những câu chuyện về thời kỳ đấu tranh cách mạng gian khổ. Dù đã hơn 70 năm, nhưng trong chuyện của cụ Lê Thị Tâm, ông Giang Hồng Phúc ở Phường Phương Lâm (thành phố Hòa Bình), ông Nguyễn Quốc Sự ở xã Mông Hóa (huyện Kỳ Sơn) vẫn vẹn nguyên một thời đánh Tây hào hùng...


Tôi là người may mắn, khi mỗi lần đến thăm lão thành cách mạng - cụ Lê Thị Tâm đều được nghe kể những câu chuyện thời kỳ tiền khởi nghĩa năm 1945. Đó là câu chuyện về những đoàn tù cộng sản ở nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), quá trình lên Sơn La trong lúc dừng chân ở chợ Phương Lâm đã tranh thủ tuyên truyền lý tưởng cách mạng cho nhân dân; đó là chuyện về những người bán hàng ở chợ Phương Lâm khi xưa họp nhau lại để thành lập “tổ cứu tế”, giúp đỡ những chiến sỹ cộng sản trên bước đường tù đày hay câu chuyện về lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên tung bay giữa sông Đà trước ngày khởi nghĩa giành chính quyền.

 

Theo trí nhớ của cụ Tâm thì thời kỳ trước cách mạng tháng 8/1945, nhân dân Hòa Bình phải sống cơ cực dưới 2 tầng áp bức bóc lột của nhà Lang và ách đô hộ của thực dân Pháp, sau là phát xít Nhật. Đời sống người dân vô cùng cực khổ, lầm than. Đến năm 1945, sau khi hất cẳng Pháp, phát xít Nhật lại càng ra sức bóc lột nhân dân, chúng bắt nhổ lúa trồng đay, trồng gai. Đời sống người dân vốn đã cơ cực, lại càng cơ cực hơn khi nạn đói diễn ra ngày một trầm trọng. Mặt khác, chúng tăng cường khủng bố, bắt bớ những người hoạt động cách mạng. Trước tình hình đó, đầu tháng 4/1945, Ban cán sự Đảng tỉnh, cùng với Chi bộ Đảng thị xã Hòa Bình (nay là thành phố Hòa Bình) nhận định Pháp đã thất thế, Nhật chưa nắm được tình hình, do vậy cần tranh thủ thời cơ mở đợt tuyên truyền mạnh mẽ trong quần chúng. Đồng thời vạch trần âm mưu, luận diệu lừa bịp của Nhật và bù nhìn tay sai.

 

Thực hiện chủ trương trên, Chi bộ Đảng thị xã Hòa Bình đã quyết định tổ chức cuộc treo cờ, rải truyền đơn, kẻ khẩu hiệu trên địa bàn. Thời gian được ấn định là ngày 12/4/1945, vào phiên chính chợ Phương Lâm, nhằm tạo tiếng vang và ảnh hưởng của Mặt trận Việt Minh trong các tầng lớp nhân dân. Trong điều kiện vô cùng khó khăn, nhưng các chiến sỹ cách mạng vẫn hăng hái tham gia rải truyền đơn, dán áp phích, kẻ khẩu hiệu phản đối địch và phân công nhau khâu cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ búa liềm. Có cờ, các chiến sỹ cách mạng đã chọn đường dây điện của địch bắc ngang sông Đà từ đỉnh đồi Ba Vành sang đỉnh đồi ông Tượng làm nơi treo. Với sự mưu trí, sáng tạo, những chiến sỹ cộng sản đã treo lá cờ đỏ sao vàng được thêu bằng kim tuyến ra giữa sông trong mùa lũ, nước chảy xiết. Lá cờ được treo hiên ngang bay trong gió, làm cho binh lính Nhật và bè lũ tay sai bất lực trong việc tháo gỡ. Sau nhiều lần tìm cách gỡ cờ xuống bất thành, cuối cùng chúng dùng súng trung liên bắn mới hạ được lá cờ đỏ sao vàng ở giữa sông. Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng cờ đỏ sao vàng đã góp phần thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh cách mạng vốn đang âm ỉ cháy trong các tầng lớp nhân dân.

 

Không chỉ là câu chuyện về việc treo lá cờ đỏ sao vàng giữa trung tâm tỉnh lỵ trước ngày khởi nghĩa. Chúng tôi còn được cụ Tâm kể cho nghe nhiều câu chuyện về thời kỳ gây dựng phong trào cách mạng, vận động nhân dân đánh Tây của những chàng trai, cô gái mười tám, đôi mươi nơi núi rừng Hiền Lương - Tu Lý trong thời kỳ đầu cách mạng. Nhờ vậy, đã góp phần đập tan âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của địch.

 

Còn câu chuyện về thời sôi nổi của ông Giang Hồng Phúc đến với tôi cũng là một cơ duyên, khi chúng tôi đi tìm một nhân chứng sống cho thời kỳ đầu thành lập Trung đoàn 12 Hòa Bình.

 

Câu chuyện của ông bắt đầu từ khi là một cậu bé mới 15 tuổi và trở thành đội viên Đại đội tự vệ của phố Khâm Thiên (Hà Nội). Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ vào 22 giờ đêm ngày 19/12/1946, cậu bé Giang Hồng Phúc khi ấy đã tham gia chiến đấu như một “Quyết tử quân” ngay tại con phố Khâm Thiên. Sau đó, do thực dân Pháp với phương tiện, vũ khí hơn hẳn đã tập trung tấn công dồn dập, buộc những “cảm tử quân” rút khỏi Thủ đô. Đơn vị của Giang Hồng Phúc được sáp nhập vào Tiểu đoàn 145 (Trung đoàn 48 Thủ đô). Rồi được lệnh lên đường đi Tây Tiến, lúc này đơn vị của ông chuyển thành Tiểu đoàn 164. Khi lên Hòa Bình, Tiểu đoàn 164 đã nhập vào Trung đoàn 52 Tây Tiến, đóng quân ở xóm Vó, xã Thượng Cốc (huyện Lạc Sơn). Tại đây, ông được tham gia nhiều trận đánh. Điển hình là trận đánh chặn địch ở dốc Cun, nhằm phá tan âm mưu tấn công theo đường 12 qua Bưng, Bằng vào Lạc Sơn. Địch có khoảng 1 trung đội, có xe tăng đi đầu, khi cách đỉnh dốc Cun khoảng 2km thì gặp trận địa Tiểu đoàn 164 với các loại vũ khí, gồm súng trường, lựu đạn, bom ba càng. Trận này, tuy không gây tổn thất nhiều cho địch, nhưng đã buộc chúng phải rút chạy, từ bỏ âm mưu tiến đánh vào Lạc Sơn theo đường 12.

 

Sau này, khi Trung đoàn 52 Tây Tiến rút về đồng bằng, ông đã ở lại tham gia xây dựng, củng cố LLVT tỉnh và trở thành một trong những người đầu tiên của Trung đoàn 12 Hòa Bình, đảm nhiệm cán bộ tiểu Ban Tác huấn có nhiệm vụ vừa chỉ đạo huấn luyện, vừa chỉ đạo chiến đấu. Sự ra đời, phát triển và trưởng thành của Trung đoàn 12 Hòa Bình cũng gắn liền với nhiều chiến công. Điển hình như trận đánh Cầu Mè (huyện Kỳ Sơn) tiêu diệt 34 xe cơ giới của địch. Hay trận đánh chặn địch trên đường số 6 tại xã Bình Thanh (huyện Cao Phong) với chiến công tiêu diệt xe tăng của anh hùng Cù Chính Lan…

 

Đối với ông Nguyễn Quốc Sự ở xóm Dụ 7, xã Mông Hoá (huyện Kỳ Sơn), ngay từ lúc trẻ đã là bộ đội chủ lực. Thời kỳ chiến dịch Hòa Bình, ông là lính của Trung đoàn 320 được phân công phụ trách tham gia chiến dịch Hòa Bình. Địa bàn chiến đấu chủ yếu ở huyện Kỳ Sơn, dọc theo tuyến đường 6. Ngày 10/12/1951, ta mở màn chiến dịch Hòa Bình, cùng với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân, du kích đã tổ chức đánh địch trên dọc tuyến đường 6. Tại đây, chỉ bằng vũ khí thô sơ, hỏa lực hạn chế, nhưng có những trận đánh làm quân Pháp phải kinh hồn bạt vía. Ngoài những trận đánh trên, trong thời gian diễn ra chiến dịch Hòa Bình, đơn vị của ông Nguyễn Quốc Sự còn phối hợp với dân quân huyện Kỳ Sơn quấy rối địch ở nhiều vị trí, như Đồng Bến, Gò Bùi, tổ chức gài mìn, bắn tỉa, bẻ gãy nhiều đợt càn quét của địch. Trong đó trận đánh ở vị trí từ đồi Dụ, cầu Mè đến Hang Nước trong ngày 23/2/1952 là một trong những trận đánh điển hình. Tại vị trí này, chỉ chưa đầy 2 tiếng đồng hồ, đơn vị của ông đã phối hợp cùng du kích và bộ đội địa phương tổ chức phục kích, tiêu diệt 1 tiểu đoàn, phá hủy 34 xe quân sự của địch.

 

Trải qua hơn 70 năm, khi sức khỏe đã cạn, trí nhớ phần nào giảm sút, thế nhưng, với họ, ký ức về một thời thanh niên sôi nổi đánh Tây vẫn còn vẹn nguyên đầy tự hào. Bởi từ trong gian khó, trong chiến đấu, họ đã trưởng thành và trở thành một nhân tố trong lịch sử đấu tranh cách mạng của xứ Mường.

                                                                                                   Mạnh Hùng