1

Thứ 2, 26/06/2017

Quay về Bạn đang ở trang: Home Đất và người Quân khu 3 Chiến sĩ phá bom từ trường dũng cảm

Chiến sĩ phá bom từ trường dũng cảm

Từng là bộ đội Trường Sơn, lái xe phá bom mìn, mở đường cho các chuyến xe chở hàng chi viện cho chiến trường miền Nam. Ông Lê Duy Lề, thôn Mậu Tài, xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng (Hải Dương) vẫn không thể quên những lần phá bom từ trường đầy khó khăn, nguy hiểm, nhất là trong những lần được đơn vị tổ chức lễ truy điệu sống cho ông và đồng đội trước khi thực hiện nhiệm vụ.cspbttttta



Tiếp chúng tôi trong căn nhà nhỏ, giản dị, ông Lề cho biết, những năm 1965 đến 1970, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết, khí thế cả nước ra trận hừng hực khắp nơi. Cùng với tuổi trẻ cả nước, tháng 6-1965, chàng thanh niên Lê Duy Lề nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc lên đường nhập ngũ. Tháng 9-1966 ông được cử đi học lái xe ở D255, năm 1969 biên chế vào Tiểu đội lái xe phóng từ phá bom từ trường Mỹ, thuộc Đại đội Xe máy, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 35, Sư đoàn 472 (Bộ đội Trường Sơn), có nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng chi viện cho chiến trường miền Nam.


Sau Tết Mậu Thân 1968, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược vượt trên ngăn chặn, hòng phá hoại tuyến vận tải quân sự chi viện cho miền Nam. Những cung đường Trường Sơn ngày ấy bị kẻ thù cầy xới nát nhừ. Chúng điên cuồng sử dụng không quân ném hàng vạn quả bom mỗi ngày, trong đó có bom từ trường, khi xe đến là phát nổ. Ở tuyến lửa ác liệt đó, tiểu đội của ông Lề được trang bị một chiếc xe bọc thép phóng từ trường công suất lớn để phá bom. Chiếc xe ấy cần bốn người điều khiển, nhưng để giảm thương vong, bốn người trong tiểu đội ông chia làm 2 kíp, mỗi kíp 2 người, một người lái, một người đóng cầu dao điện phóng từ. Khi nhận nhiệm vụ tiểu đội của ông được đơn vị làm lễ truy điệu sống và phong là “chiến sĩ cảm tử quân”.


cspbttttta

 

Cựu chiến binh Lê Duy Lề (bên phải) kể về những năm tháng phá bom từ trường trên tuyến lửa đường Trường Sơn.

 

 

 

Nhớ lại thời khắc nguy hiểm đó, ông Lề cho biết: “Khi phá bom, khoảng cách thông thường từ xe tới quả bom là 40 đến 50 mét, đóng cầu dao điện phóng từ, bom sẽ nổ. Nhưng cũng có quả bom “lì lợm”, xe tiến gần 30, 20 rồi 10 mét mới chịu nổ. Thậm chí có lần bom nổ ngay sát mũi xe, đất đá, mảnh bom bay mù mịt, hất xe bật lùi trở lại, khiến tôi và đồng đội ngất lịm trên xe”.


 

Một trận đánh mà ông Lề còn nhớ mãi, đó là vào mùa khô năm 1970, tại Km 27, ông cùng đồng đội phóng từ phá nổ hàng trăm quả bom từ trường cùng các loại bom hỗn hợp khác. Tuy nhiên, vẫn có những quả bom không nổ, nằm chỏng chơ giữa đường, các ông điều khiển xe tiến gần, rồi lùi lại và liên tục phóng từ, đóng điện 4 đến 5 lần nhưng bom vẫn không nổ. Để khắc phục, tiểu đội ông đã có sáng kiến dùng cành cây buộc vào đuôi xe và hai bên xe, khi xe chạy sẽ chạm vào dây mìn vướng nổ, nên ngoài phá bom từ trường các ông còn phá được các loại bom mìn khác vốn rất khó phát hiện bằng mắt thường.


 

Trận phá bom cam go và ác liệt nhất diễn ra ngày 21-11-1972 tại đèo Long, sông Bạc. Trong chiến dịch vận chuyển mùa khô năm 1971 -1972, địch đã phát hiện ta có xe phóng từ phá bom nên chúng dùng bom Lade phá hỏng xe. Máy bay Mỹ gầm rú ác liệt và dội bom như mưa xuống đường. Đường bị nghẽn tắc, cày xới ngổn ngang. Đoàn xe Z chở hàng đặc biệt vào chiến trường miền Nam đang chờ thông đường để gấp rút chuyển bánh, trong khi đó xe phá bom từ trường đã bị địch phá hỏng. Trước tình hình khẩn cấp đó, cấp trên ra lệnh cho đơn vị bằng mọi cách phải thông đường để đoàn xe Z kịp thời lên đường.


 

Ngày 22-11-1972, Đại đội trưởng Trần Xuân Vang cho họp toàn đơn vị nêu tình hình cấp bách và quyết định dùng xe Zin130- loại xe tải thông thường chạy vượt qua bãi bom để thông đường. Đây là nhiệm vụ hết sức nguy hiểm, đòi hỏi lòng dũng cảm, sự hy sinh của người lính, bởi nếu bom nổ chắc chắn người trên xe sẽ không còn cơ hội sống sót. Đại đội trưởng vừa phát động tinh thần xung phong, không do dự, ông Lề đứng lên quyết tâm đảm nhận nhiệm vụ này. Đối mặt với sự khốc liệt của chiến tranh, ông Lề càng thêm quyết tâm và lòng dũng cảm. Vào công việc, trước những cặp mắt cảm phục, những trái tim đồng đội nghẹn lại vì lo lắng và xúc động, người chiến sĩ dũng cảm Lê Duy Lề đã được đơn vị tổ chức lễ truy điệu sống (lần 2). “Lúc đó tôi chỉ có một suy nghĩ: Không phá được bom để thông đường thì hàng trăm chiếc xe không thể chở hàng chi viện cho chiến trường miền Nam được. Không do dự gì, tôi mặc áo giáp, đội mũ sắt quyết định lái xe vượt trọng điểm. Khi tôi nhận nhiệm vụ nguy hiểm đó, cả đơn vị lặng đi xúc động. Trước lúc lên đường, đơn vị đã tổ chức lễ truy điệu sống cho tôi. Mắt ai cũng hoe hoe đỏ. Hát Quốc ca, giọng ai cũng nghẹn ngào. Đối mặt với cái chết, tôi không run sợ, nhưng nghĩ đến đồng đội, đến phút giây tiễn nhau có thể là phút gặp mặt cuối cùng, rồi chia lìa vĩnh viễn…. nước mắt tự nhiên ứa ra”- Ông Lề tự hào, xúc động kể.


 

Chiếc Zin130 lao ra đoạn đường “tử lộ” đèo Long. Bom nổ trước mặt, bom nổ sau lưng, bom nổ hai bên đường xe chạy. Đất đá, cành cây tung tóe, mù trời, ông Lề vẫn bình tĩnh giữ chặt tay lái. Tất cả đồng đội của ông như nín thở, chờ tin dữ. Song như có phép màu kỳ diệu, chiếc xe vượt qua cung đường “lửa” an toàn. Đến bến sông Bạc, máy bay địch tiếp tục bắn phá dữ dội, nhanh như cắt ông Lề sang xe của những đồng đội đã bị thương, lái tránh đạn và dẹp đường. Đường thông, đoàn xe Z hối hả nối đuôi nhau tiếp tục lên đường an toàn, còn người lái xe phá bom cảm tử Lê Duy Lề bị sức ép của bom, tai, miệng chảy máu rồi ngất đi…


 

Ngay sau trận đó, toàn binh trạm đã phát động học tập gương chiến đấu dũng cảm của chiến sĩ Lê Duy Lề. Trận đèo Long sông Bạc nổi tiếng ấy đi vào lịch sử kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc ta như một mốc son tự hào. Giờ đây, người chiến sĩ Trường Sơn một thời oanh liệt năm xưa đã nghỉ hưu, nhưng luôn hăng hái tham gia công tác xã hội, một đảng viên gương mẫu, là tấm gương tiêu biểu cho thế hệ trẻ học tập và noi theo.

 

THANH NGUYỄN