1

Chủ nhật, 22/10/2017

Quay về Bạn đang ở trang: Home Đất và người Quân khu 3 Chiêu nghi Đặng Thị Cúc: Người phụ nữ tài đức vẹn toàn

Chiêu nghi Đặng Thị Cúc: Người phụ nữ tài đức vẹn toàn

cndtcccccQK3 online - Được tuyển vào phủ chúa làm cung tần, với tài năng, đức độ vẹn toàn, Chiêu nghi Đặng Thị Cúc trở thành một nữ nhân kiệt xuất ở xứ Đông. Khi mất, bà được triều đình sắc phong Thành hoàng.


Nữ nhân kiệt xuất.


Việc một phụ nữ được triều đình sắc phong Thành hoàng là điều hiếm hoi trong xã hội phong kiến Việt Nam. Điều đó chứng tỏ Chiêu nghi Đặng Thị Cúc là một trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng không nhỏ. 


Theo các sử liệu, Chiêu nghi là tên gọi một tước vị thời phong kiến của cung tần. Ở Việt Nam vào thời Hậu Lê, chiêu nghi đứng sau hoàng hậu, tam phi.


Đặng Thị Cúc là người Ổi Lỗi, xã Hoa Xá, huyện Gia Phúc (nay là thôn Phương Khê, xã Hồng Hưng, Gia Lộc). Ngày nay, con cháu dòng họ Đặng ở Phương Khê vẫn kể những câu chuyện về bậc tiền nhân của dòng họ với sự tự hào. Theo ông Đặng Đình Gia (85 tuổi), bậc cao niên dòng họ Đặng, bà Cúc là trưởng nữ của Giáo điểm Văn xá hầu Đặng Quang Tiến sinh năm Hoằng Định thứ 11 Canh Tuất (1610). Bà có cốt cách khác người, dung nhan chim sa cá lặn, can đảm, được người đương thời ca tụng tài đức vẹn toàn.


cndtccccc

Khu lăng mộ Chiêu nghi Đặng Thị Cúc

 

Năm Quý Hợi Vĩnh Tộ thứ 5 (1623), mới 14 tuổi, bà được tuyển làm thị nội cung tần của chúa Trịnh Tráng, giúp mở mang phong tục và giáo hóa. Bà thường phụng mệnh làm nội trợ cho chúa khi xuất chinh, lập nhiều công lớn, góp phần quan trọng vào các cuộc chinh phạt, được chúa sủng ái, ban thưởng rất hậu. Công đức của bà đã giúp cho gia đình, anh em đều được vinh hiển, dòng họ thơm lây. 


Mặc dù ở chốn triều đình song bà thường xuyên quan tâm, chăm lo đến đời sống người dân ở quê nhà. Bà từng tặng hơn 200 đôi vòng, xuyến, lắc bạc cho các cụ bà, phụ nữ và trẻ em gái ở quê nhà. Nghĩ đến việc hậu sự, bà xuất trên 1000 quan tiền mua tặng làng 12 mẫu ruộng cho dân bản thôn cày cấy để lo việc thờ cúng sau này. Ngày 2-5 năm Mậu Thân niên hiệu Cảnh Trị thứ 6 (1668), bà qua đời, hưởng thọ 59 tuổi. Linh cữu của bà được quàn hơn 40 ngày để người gần xa đến viếng. Thánh thượng vô cùng thương tiếc, đặc phái trọng thần về lo việc tang, ban sắc mệnh, gia phong để tỏ lòng ân nghĩa và giao cho bản thôn thờ cún


Văn khế về việc thờ cúng Chiêu nghi Đặng Thị Cúc được các chức sắc thôn Phương Khê (thôn Ổi Lỗi xưa) lập năm Đức Nguyên thứ 2 (1675) có ghi, Chiêu nghi thuở nhỏ sống ở quê, khi trưởng thành vào phủ chúa làm cung tần. Vì cung phụng, quản dân ở quê như con, miễn thuế khóa nên ai cũng nhớ ân đức. Nhân dân lập đền thờ, cử người cấy ruộng, phụng thờ giỗ chạp. Thánh thượng cấp cho bản quán phục vụ việc trông nom thờ phụng đền thờ hằng năm. Vì vậy cùng nhau lập khế ước để thờ cúng. Tế vật bà hằng năm cũng được ghi khá chi tiết. Ngày giỗ hằng năm vào 2-5 và ngày 12 tháng giêng, người cấy ruộng phải ứng tiền để sắm lễ vật gồm: 12 mâm xôi, 12 con gà, 12 chĩnh rượu, muối, trầu cau, vàng mã… 


Cần được quan tâm bảo tồn.


Liên quan đến cuộc đời của Chiêu nghi Đặng Thị Cúc hiện còn rất nhiều các tài liệu hiện vật giá trị vẫn đang được lưu giữ. Nổi bật là hai bản sao sắc phong thành hoàng cho Đặng Thị Cúc thuộc niên đại Khải Định 2 (1917) và Khải Định 9 (1924). Nội dung sắc phong có viết: sắc cho Phương Khê thôn, Thị Xá thôn, Nhân Lý thôn thuộc Phương Xá xã (Hồng Hưng ngày nay), tam thôn đồng phụng sự thành hoàng Chiêu nghi Đặng Thị Cúc. Đây là tư liệu Hán Nôm quý giúp nghiên cứu về thần tích, thần sắc thành hoàng Việt Nam. 


Đặc biệt hiện ở thôn Phương Khê vẫn còn lăng mộ của bà đang được cháu con dòng họ Đặng trông nom. Từ xa, khu lăng mộ được xây uy nghi có mái che nổi bật trên một gò đất giữa cánh đồng. Trong khuôn viên khu lăng mộ khoảng nửa sào có bát hương bằng đá, một giường đá và văn bia hình vuông. Bia đặt trên bệ đá lớn, phần trên tạo chóp giống kiểu kiệu rước, chiều cao 135cm. Trán bia trang trí hoa văn hình mái ngói âm dương cùng hoa cúc cách điệu. Bốn mặt bia khắc chữ Hán Nôm. Nội dung các mặt của văn bia ghi tiểu sử Chiêu nghi Đặng Thị Cúc, khoán văn cho việc thờ tự muôn đời, thể lệ, vật tế, nghi thức tế, các thửa ruộng dùng cho việc thờ tự. Văn bia được lập năm Đức Nguyên 2 (1675) do Tiến sĩ Hồ Sĩ Dương, chức Bồi tụng, Công bộ thượng thư, tước Duệ quận công soạn. Tấm bia này do Vương phủ thị nội cung tần tặng. Văn bia Chiêu nghi Đặng Thị Cúc là một tài liệu, hiện vật quý không chỉ của địa phương mà còn của cả nước cung cấp cho hậu thế nhiều thông tin lịch sử về một nữ quan vốn ít khi được ghi chép trong chính sử. Qua văn bia xác định được địa danh cổ của thôn Phương Khê, phong tục tập quán, nghi lễ thờ thành hoàng trong xã hội phong kiến xưa.


Ông Đặng Văn Kiu, trưởng họ Đặng cho biết: Lăng mộ bà Đặng Thị Cúc đặt tại khu Đồng Bia sau khi bà mất. Ngày xưa, khu lăng mộ chỉ có bia, giường đá, bát hương nhưng xung quanh có 8 sào đất để bảo vệ. Mấy năm gần đây con cháu trong dòng họ mới góp sức xây lại khu lăng mộ uy nghi như bây giờ.

Ngày trước, việc thờ cúng bà được tổ chức tại ngôi đền 5 gian bằng gỗ lim và đình Chạ. Mỗi kỳ lễ hội làng Phương Khê đều có nghi thức rước kiệu thành hoàng Đặng Thị Cúc từ đền thờ dòng họ ra đình Chạ. Sau này do đình Chạ và đền thờ họ Đặng bị Pháp đốt phá, nghi lễ rước mới chấm dứt. Ngày nay, con cháu dòng họ Đặng đã xây lại một ngôi nhà thờ trên nền đền cũ để thờ cúng bà. Tại đây vẫn lưu giữ được một bài vị, ban thờ niên đại thời Hậu Lê. Tuy không còn nghi lễ rước song trong lễ hội đình Phương Khê hằng năm vẫn có tuyên đọc văn tế Chiêu nghi Đặng Thị Cúc.


Với tài năng, đức độ của mình, nữ quan Chiêu nghi Đặng Thị Cúc đã để lại nhiều di sản, hiện vật, tài liệu quý báu, làm phong phú cho nền văn hiến xứ Đông. Tên tuổi của bà đã được liệt vào hàng các nữ nhân nổi tiếng của đất nước nói chung, tỉnh ta nói riêng: cung nữ Điểm Bích ở thế kỷ XIV, Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ, Cung tần Nguyễn Thị Ngọc Chén ở thế kỷ XVII… Nhưng đáng tiếc đến nay những di sản này chưa được nhìn nhận đúng giá trị. Mong rằng ngành văn hóa sẽ có các nghiên cứu, lập hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử cho khu lăng mộ Chiêu nghi Đặng Thị Cúc để gìn giữ và phát huy giá trị theo Luật Di sản văn hóa. 

                                                                   Theo Báo điện tử Hải Dương