1

Thứ 2, 26/06/2017

Quay về Bạn đang ở trang: Home Đất và người Quân khu 3 Chuyện ít biết về Trạng Trấn

Chuyện ít biết về Trạng Trấn

tttibTrạng nguyên Phạm Trấn là một trong những danh sĩ xứ Đông nổi tiếng ở thế kỷ 16 nhưng đến nay nhiều người Hải Dương vẫn chưa biết về cuộc đời và công đức của ông.



Tài năng, chí khí hơn người


Trạng nguyên Phạm Trấn sinh năm Quý Mùi -1523 tại xã Lam Kiều, huyện Gia Phúc, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay là thôn Nam Cầu, xã Phạm Trấn, Gia Lộc, Hải Dương) trong một gia đình tiểu nông. Thuở thiếu thời, nhà nghèo, cha lại mất sớm nên ông phải đi ở đợ, chăn trâu, cắt cỏ. Đến khi đi học, thầy đồ thấy Phạm Trấn thông tuệ hơn người nên đã nhận vào học  không lấy tiền. Nhà nghèo không đủ tiền mua giấy viết, ông đi lấy tấm ván thôi rửa sạch mang về làm bảng viết chữ luyện văn. Với tư chất thông minh, lại cần mẫn nên ông học giỏi nổi tiếng trong vùng. Chuyện kể rằng ông và Đỗ Uông, người làng Đoàn Lâm (nay thuộc xã Thanh Tùng, Thanh Miện) là bạn đồng môn, sức học một chín một mười. Đến năm Bính Thìn, niên hiệu Quang Bảo 2 (năm 1556) đời Mạc Phúc Nguyên, hai người cùng đi thi, Phạm Trấn đỗ Trạng nguyên, còn Đỗ Uông đỗ Bảng nhãn. Đến ngày vinh quy, triều đình thết đãi linh đình rồi cấp cho mỗi người một con ngựa, cùng quan quân tùy tùng trống giong cờ mở dẫn hai quan tân khoa cùng về vinh quy bái tổ. Trên đường về, Đỗ Uông cho ngựa của mình đi ngang ngựa Phạm Trấn, tỏ ý không phục. Khi về tới cầu Cốc ở làng Đoàn Lâm, nhân thấy có cô hàng rượu tên Loan xinh đẹp, hai người liền so tài làm thơ, ra đầu đề, hẹn mỗi câu phải dùng tên hai giống chim, khi qua cầu ai làm xong thì được nhường đi trước. Quan Trạng lên cầu lập tức ứng khẩu thành thơ. Đỗ Uông thấy vậy rất phục liền nhường cho quan Trạng đi trước. Về sau khi đã làm quan trong triều, có lần hai người ngồi uống rượu với nhau, cùng làm thơ bình về rượu, Đỗ Uông đọc: Hữu hoàng dụng hoàng, vô hoàng dụng hỏa Sử dụng hàm nghi, vô thi bất khả.


Nghĩa là “Có rượu Hoàng lưu dùng rượu Hoàng lưu, không rượu Hoàng lưu dùng rượu hỏa tửu, dùng thứ gì cũng xong, thơ thì phảI có”. Phạm Trấn đọc:Hữu hoàng tắc ẩm, hỏa tửu tắc nguyệtHữu vi thử ngôn, thiên địa nhật nguyệt.


Nghĩa là: “Có Hoàng lưu thì uống, rượu hỏa tửu thì thôi, nếu trái lời ấy, có trời đất, nhật nguyệt soi xét”. Qua đó thấy sự lập chí của hai người khác nhau, thơ thể hiện tính cách của con người. Quả nhiên, sau khi nhà Lê giành lại triều nghiệp từ nhà Mạc, trong lúc nhiễu nhương, Đỗ Uông chấp thuận ra làm quan với nhà Lê. Phạm Trấn làm quan tới chức Thừa chính sử, một lòng với nhà Mạc, sau đó ông cáo quan về ở ẩn, tuân theo lễ nghĩa thánh hiền, người quân tử không thờ hai vua.


tttib

Đền thờ Trạng Trấn


Giúp dân an cư lạc nghiệp


Sau khi cáo quan về ở ẩn, Phạm Trấn cùng bạn đồng môn đến ở và mở trường dạy học ở làng Ngọc Nhị, xã Cẩm Đái, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì (Hà Nội). Truyền thuyết kể rằng do đi lại nhiều trong vùng, ông thấy dân phường Vạn Chài sống trên sông nước gặp nhiều khó khăn. Thương cảm hoàn cảnh vất vả của họ, ông có ý định lập làng mới trên cạn để họ ổn định cuộc sống, an cư, lập nghiệp. Trước tiên, ông mua một mảnh đất hoang ở phía nam làng Khê Thượng, dựng trang trại. Sau đó ông khuyên dân phường Vạn Chài lên cạn lập làng, làm nhà ở và đổi sang nghề trồng trọt. Nghe theo lời khuyên bảo của ông, nhiều bà con Vạn Chài cùng một số bà con các làng lân cận như Vô Khuy, Ngọc Nhị… cũng đến ở bên trang trại của ông để khai hoang, cấy lúa, trồng màu. Dần dần làng trở nên đông vui, ấm cúng và được ông đặt tên là làng Đan Thê. Trong quá trình dân Vạn Chài lập làng, ông còn vận động các làng lân cận như Ngọc Nhị, Tăng Mi giúp đỡ bằng cách đánh tre cả bụi, đánh chuối có buồng đem đến trồng, dỡ nhà bếp có bồ hóng đem đến dựng… để xóa dấu vết một làng mới. Lập làng xong, dân Đan Thê bị kiện chiếm đất, lấn ruộng của dân bản cư. Ông đã thỉnh cầu các bạn đồng môn cũ đang làm quan trong triều, nhất là Đỗ Uông, bảo vệ việc làm chính đáng, khai hoang lập làng của dân Đan Thê. Do vậy, dân Đan Thê thắng kiện, làng được bảo tồn và trở nên đông đúc hơn. Ông hướng dẫn nhân dân canh tác, làm vườn, mang giống dưa chuột và vải của quê hương lên cho nhân dân trồng. Nhờ đó làng Đan Thê có một trại vải chạy suốt dọc làng, từ xóm Cống Khê đến làng Bảng Chung (Thuần Mỹ) với hàng trăm cây. Đến nay giống dưa chuột vẫn được gìn giữ, phát triển và trở thành đặc sản của địa phương. Với công đức ấy, ông được dân làng biết ơn và tôn vinh là thành hoàng, lập miếu thờ. Đến nay, vì thời gian và chiến tranh tàn phá, miếu không còn nữa.


Trải qua gần 500 năm lịch sử, tại xã Phạm Trấn, quê hương ông hiện vẫn còn hai di tích là đường Quan Trạng và ngôi mộ của thân phụ ông. Theo truyền thuyết, để đón Trạng Trấn vinh quy bái tổ, dân làng đã làm xong con đường chỉ trong vòng một đêm. Năm 2013, đường Quan Trạng đã được đổ bê-tông, dài 1.426 m, rộng 4,5 m nối từ thôn Nam Cầu đến đường 393. ở ngoài cánh đồng thôn Quỳnh Côi Hạ (nay là thôn Côi Hạ), ngôi mộ của thân phụ ông được chính quyền xã xây chắc chắn từ hơn chục năm trước, luôn được nhân dân quanh vùng chăm lo hương khói. Để ghi nhớ công đức của danh nhân quê mình, năm 1956, Đảng bộ và nhân dân xã Minh Đức đã đề nghị Nhà nước đổi tên xã thành Phạm Trấn. Năm 2003, đại diện UBND xã Phạm Trấn đã lên thăm làng Đan Thê, quê hương thứ hai của ông. Năm 2002, đền thờ quan Trạng được xây dựng ở trung tâm xã, hằng năm vào ngày giỗ của cụ (1-12 âm lịch), nhân dân địa phương và khách thập phương đều tổ chức lễ dâng hương để tưởng nhớ một vị quan tài đức phò vua, giúp nước.


Trong buổi giao thời nhiễu nhương, Trạng Trấn đã dùng tài trí của mình lập nên công đức to lớn, được nhân dân tưởng nhớ muôn đời. Ông là tấm gương sáng về đức, về tài của nhân sĩ xứ Đông.

                                                                                           VIỆT QUỲNH