0985.456.616

Chủ nhật, 18/11/2018

htnndlllcc

Home Đất và người Quân khu 3 Gốm Chu Đậu - Nơi hội tụ tinh hoa văn hóa Việt

Gốm Chu Đậu - Nơi hội tụ tinh hoa văn hóa Việt

Bài 1: KỲ NỮ HẢI ĐÔNGb1gcd1


Trong một lần ghé thăm người bạn ở Hải Dương, tôi thoáng nghe anh kể câu chuyện ly kỳ về một cổ vật được lưu giữ tại bảo tàng Thổ Nhỹ Kỳ hé lộ danh tính “Kỳ nữ Hải Đông” - người nghệ nhân tài hoa vào thế kỷ thứ XV được hậu duệ suy tôn là tổ nghề của sản phẩm nổi tiếng gốm Chu Đậu. Câu chuyện hàn huyên lâu ngày mới gặp giữa anh và tôi dường như bị lu mờ, bởi chuyện cổ vật mà anh kể chiếm hết không gian tâm hồn tôi.


b1gcd1

Ban thờ cụ bà Bùi Thị Hý tổ nghề gốm Chu Đậu trong khuôn viên công ty

 

Khăn gói quả mướp tìm về mảnh đất phát tích của cổ vật (xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), chúng tôi được anh Nguyễn Hữu Thức, Giám đốc Công ty Cổ phần gốm Chu Đậu dẫn vào thăm đền thờ tổ nghề ở ngay trong khuôn viên công ty. Kính cẩn thắp nén hương tưởng nhớ tới cụ tổ nghề gốm Chu Đậu Bùi Thị Hý, Giám đốc Nguyễn Hữu Thức kể với chúng tôi về câu chuyện qua làn khói hương phảng phất: Chuyện bắt đầu từ lá thư của ông Makoto Anabuki, Bí thư Văn hóa Đại sứ quán Nhật Bản gửi cho Bí thư Tỉnh ủy Hải Hưng (cũ) nhờ tìm xuất xứ một chiếc bình gốm. Theo thư của ông Makoto, năm 1980, khi công tác ở Thổ Nhĩ Kỳ, ông được chiêm ngưỡng một bình gốm được coi là quốc bảo tại Bảo tàng Topkapi Saray Istanbul. Chiếc bình được mua bảo hiểm 1 triệu USD. Trên lớp tráng men xanh da trời và trắng của bình gốm tinh xảo đó có khắc 13 chữ Hán: “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút” (Dịch là: Năm Thái Hòa thứ 8 (1450), tại châu Nam Sách, nghệ nhân Bùi Thị Hý vẽ).

 

Sau đó, tỉnh Hải Hưng đã cử nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành (người phụ trách Ban Thông sử UBND tỉnh lúc bấy giờ) đi tìm xuất xứ. Khi đó, làng Chu Đậu (Thái Tân, Nam Sách, Hải Dương) chỉ được biết đến với nghề dệt chiếu cói, nên công việc tìm kiếm gặp muôn vàn khó khăn. Từ việc gạn lọc thông tin để xác định bà Bùi Thị Hý là ai, hàng chục năm tìm hiểu, nhiều cuộc khai quật xác định Chu Đậu là gốm cổ… Nhờ sự tình cờ tìm được hậu duệ của dòng họ Bùi với cuốn gia phả, ông Tăng mới xác định được danh phận chính xác của bà Bùi Thị Hý.

 

Ngày 18-4- 2007, hậu duệ họ Bùi đã tìm được con nghê bằng đất nung tại làng gốm cổ, nơi mà gia phả nói tới. Những con nghê như vậy được thấy nhiều trong hố khai quật đồ gốm Chu Đậu Nam Sách và những lò cùng thời ở hữu ngạn sông Kẻ Sặt (Bình Giang). Hiện vật có ghi hai dòng chữ Hán, viết trên một mặt phẳng phía đuôi con nghê trước khi nung: Quang Thuận nhất niên, Quang Ánh trang, Bùi Thị Hý tạo. Có nghĩa là tác phẩm do Bùi Thị Hý tạo, tại trang Quang Ánh, vào năm Quang Thuận thứ nhất (1460). Cả hai cổ vật này đều có chung một tác giả và thời gian cách nhau chỉ 10 năm đã cho thấy độ hiếm đó liệt vào hàng “quốc bảo” và lại càng quý hơn khi tác giả là nữ, lại có trình độ tạo tác, biết viết chữ ở thế kỷ XV.

 

Theo gia phả dòng tộc họ Bùi thì bà Bùi Thị Hý (1420-1499) là cháu của cụ Bùi Quốc Hưng- khai quốc công thần đời Lê cùng thời với danh nhân Nguyễn Trãi. Cụ Hý có biệt tài viết chữ và vẽ đồ gốm rất đẹp, từng giả nam đi thi đại khoa, đến tam trường thì bị phát hiện. Về sau, bà lấy đại chủ Đặng Sỹ, là chủ lò gốm Chu Trang (tức gốm Chu Đậu ngày nay) và giàu nổi tiếng khi đương thời. Tuy nhiên, trong một lần đi giao hàng trên biển chồng bà bị tai nạn đã bỏ mạng. Bà Hý tái giá với ông Đặng Phúc cũng là một đại gia ở Chu Đậu. Sau khi tái giá, bà cùng với chồng chỉ huy các thuyền xuất khẩu gốm Chu Đậu sang các nước phương Tây. Cuối đời, bà về công đức tiền của xây đình, chùa Viên Quang. Ông Hoành và gia đình tìm về chùa Viên Quang thì được biết đình và văn bia có ghi tiểu sử của bà Hý đã bị phá từ lâu, chỉ còn một cây thiên đài để thắp hương có nhắc đến tên bà, nhưng không có thông tin gì hé mở về nơi chôn cốt. Tình cờ, ông Hoành phát hiện một dòng chữ Hán trên ngai thờ ở nhà thờ họ ghi “Mộ ở xứ Thượng Đường” (nay là thôn Quang Tiền, xã Đồng Quang, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương).

 

Ngày 10-01-2009, hậu duệ của bà Hý đã đào tìm, rồi phát hiện một số vật yểm và viên gạch đất nung màu hồng nhạt, nhẹ lửa, bị mẻ một góc có ghi những thông tin quan trọng về mộ chí của bà Bùi Thị Hý, gồm thông tin về nơi chôn và những đồ tùy táng, trong đó có một con rồng bằng đất nung cao khoảng 70cm. Theo những thông tin có được, ông Hoành và gia đình tìm tới ngã ba sông Định Đào thì nơi đó bây giờ đã thành ao. Dò hỏi người dân trong vùng, tìm ra những người đào ao thưở trước, họ cho biết khi đào đất khu vực đó đã tìm thấy một con rồng rất lớn, cao khoảng 70cm bằng đất nung. Khi những người thợ đào ao về ăn cơm trưa thì ai đó lấy mất. Sau hơn một tháng kiên trì tìm kiếm, cuối cùng ông Hoành và gia đình họ Bùi cũng tìm được một người dân ở xã Quang Tiến, là người đã bê con rống về. Ông Hoành chụp lại ảnh con rồng mang đi đối chiếu thì thấy đúng là mẫu rồng Nam Sơn. Tiếp theo chỉ dẫn ở viên gạch đất nung, ngày 04-4-2009, nhân ngày Thanh Minh, gia tộc họ Bùi tổ chức khai quật và tìm thấy bia mộ chí của nữ kỳ tài, cùng một số hiện vật quý tại gò Hình Nhân nổi giữa ao của gia đình.

 

Ông Hoành chia sẻ: “Thường thì bia mộ chí ở đâu thì mộ ở đó. Vì thế, tôi đã dự đoán rằng mộ của nữ kỳ tài Bùi Thị Hý cũng nằm ngay trên mảnh đất Hình Nhân của gia đình ông Lợi. Đúng thời điểm đó, một sự trùng hợp ngẫu nhiên đáng kinh ngạc, ban liên lạc dòng họ Phí toàn quốc từ Hà Nội xuống tìm tôi nhờ giúp cho việc nhận họ hàng với họ Bùi ở Gia Lộc. Ngược dòng lịch sử, năm 1304, cụ Phí Mộc Lạc làm quan ở nội triều nhà Trần rất được trọng dụng và tín nhiệm. Thế nhưng, Thượng hoàng Trần Nhân Tông nói họ Phí ít người biết đến, hơn thế chữ “Mộc lạc” lại có nghĩa là cây đổ, cây gẫy nên không tốt. Vì thế, Thượng hoàng đổi họ tên cho cụ Phí Mộc Lạc thành Bùi Mộc Đạc. Từ “mộc đạc”nghĩa là cái mõ, ý là nổi tiếng. Từ đó, rất nhiều chi nhánh họ Phí tự động chuyển sang họ Bùi. Bà Bùi Thị Hý, chính là hậu duệ của cụ Bùi Mộc Đạc”.

 

Ngày 26-10-2009, dòng họ Bùi khởi công xây mộ cho bà tổ cô. Theo sự tư vấn của ông Hoành, ông Lợi đã cho tát cạn ao và mời cán bộ Bảo tàng tỉnh Hải Dương xuống chứng kiến. Đến khoảng 12 giờ trưa thì tìm thấy mộ phần của bà Bùi Thị Hý, cạnh nơi tìm được bia mộ chí. Hòn gạch đậy trên mộ được mang về Bảo tàng tỉnh có ghi “Tẫn cốt tổ cô Bùi Thị Hý nội bình đồng Vọng Nguyệt bảo kiếm” (Dịch: Tro xương tổ cô Bùi Thị Hý trong bình cùng thanh kiếm của bà – Vọng Nguyệt làtên hiệu của bà Hý). Dòng cuối ghi “Vị Nhuận Cần mật táng” (Dịch: 3 ông Vị, Nhuận, Cần – 3 ông trưởng chi – chôn bí mật). Mộ nằm trong nhiều tầng lớp đồ gốm, xây theo đúng hình nhân.

 

Liên quan đến bà tổ nghề gốm Chu Đậu tài hoa Bùi Thị Hý, ngoài hai cổ vật quý giá là chiếc đĩa và con nghê có thủ bút của bà đã nhắc đến trước đó, ngày 14-4-2009, ông Lợi còn cung cấp cho ông Tăng Bá Hoành một phiến đá nhỏ có chữ Hán, nằm lẫn trong đống đá tảng ở đầu nhà. Ông Hoành xuống tận hiện trường xem xét và xác định đó là chiếc la bàn đi biển của bà Bùi Thị Hý. Chiếc la bàn hình vuông, trên có ghi chữ “Châm bàn chu hải khứ, Bùi Thị Hý” (Dịch: Bàn kim chỉ đường đi cho thuyền biển của Bùi Thị Hý). Ở giữa la bàn gạch chữ thập, ghi chữ Bắc, Đông, mất chữ Nam, Tây. Bàn của la bàn bằng đá cẩm thạch được mài nhẵn mặt trên. Đây là hiện vật vô cùng quan trọng, xác nhận bà Bùi Thị Hý là người đi biển ở thế kỷ XV.

 

Như vậy, từ những hiện vật khảo cổ tìm được với những bút tích chứng minh bà Bùi Thị Hý là một nữ trí thức, nghệ nhân, doanh nhân, nữ hàng hải tiêu biểu cho bản lĩnh Việt và đặc biệt là cho phụ nữ Việt thế kỷ XV. Bà xứng danh là “Kỳ nữ Hải Đông” và được hậu thế tôn vinh là “Tổ nghề gốm Chu Đậu”. Những sản phẩm bà làm ra đã trở thành “quốc bảo” không chỉ ở Việt Nam mà còn tỏa sáng tinh hoa văn hóa Việt tại châu Âu. Tài năng, trí tuệ của bà đã kết tinh văn hóa truyền lại cho hậu thế, để lớp lớp các nghệ nhân của Công ty Cổ phần gốm Chu Đậu hôm nay kế tục, gìn giữ và phát triển thành một sản phẩm gốm nổi tiếng trong nước và thế giới.

Bình Minh (đón đọc bài 2: HỘI TỤ VÀ LAN TỎA TINH HOA VĂN HÓA VIỆT)