1

Thứ 2, 20/11/2017

Quay về Bạn đang ở trang: Home Đất và người Quân khu 3 Kỷ niệm 785 năm ngày sinh anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo (1232-2017):

Kỷ niệm 785 năm ngày sinh anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo (1232-2017):

Anh hùng Trần Hưng Đạo - nhà tư tưởng lớn, nhà quân sự lỗi lạcahthdddd


Cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông xâm lược vào thế kỷ 13 của quân dân Đại Việt là chiến công chói lọi trong lịch sử dân tộc. Trong chiến công vĩ đại ấy có sự đóng góp to lớn của nhà quân sự lỗi lạc, người anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn. Ông sinh năm 1232(?), qua đời ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300). Khi mất, ông được phong tước Hưng Đạo Vương nên thường được gọi là Trần Hưng Đạo. Tên tuổi và sự nghiệp của Trần Hưng Đạo gắn liền với chiến công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần 1 (1258), lần 2 (1285), đặc biệt là lần 3 (1287 – 1288) và các cuốn sách Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư, áng thiên cổ hùng văn Hịch tướng sĩ cùng những câu nói nổi tiếng: “Nếu bệ hạ muốn hàng, hãy chém đầu thần trước đã”, “Nếu giặc cậy trường trận thì ta dùng đoản binh. Lấy ngắn chế ngự dài”, “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách để giữ nước”… Ông được thờ phụng ở hai nơi chính là Kiếp Bạc (Hải Dương) và Bảo Lộc (Nam Định) cùng hàng trăm ngôi đền khác trên khắp đất nước ta.


Điểm cốt lõi trong tư tưởng chính trị của Trần Hưng Đạo là quan điểm “lấy dân làm gốc”. Vào thời đại nhà Trần, mặc dù tư tưởng trên không còn là mới mẻ song nó đã được Trần Hưng Đạo vận dụng một cách triệt để, rộng khắp và mang lại tác dụng rất lớn, nhất là trong hoàn cảnh đất nước bị giặc ngoại xâm hùng mạnh đe doạ. Ông luôn quan niệm: nhân dân là lực lượng xã hội quan trọng, là gốc rễ của đất nước, của mọi sự hưng - thịnh, thành – bại của một triều đại, một dân tộc. Chính từ thực tế những năm tháng xây dựng đất nước và chống giặc Nguyên – Mông xâm lược đã giúp Trần Hưng Đạo có nhận thức sâu sắc về vai trò, sức mạnh của nhân dân.


ahthdddd

Tượng đài Trần Quốc Tuấn tại Quảng trường 3/2, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định


Bên cạnh đó, Trần Hưng Đạo cũng luôn đề cao sức mạnh của mối đoàn kết toàn dân tộc. Trước đội quân xâm lược hùng mạnh bậc nhất thế giới thời bấy giờ, trong vai trò là một vị “tổng tư lệnh” quân đội nhà Trần, ông đã nhận rõ cần phải tập hợp mọi giai cấp, mọi đối tượng dưới ngọn cờ kháng chiến, tạo thành sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc. Cuộc đời Trần Hưng Đạo là một tấm gương sáng về lòng “trung quân ái quốc” khi ông đã dẹp bỏ mối hiềm khích trong gia đình, đặt quyền lợi của quốc gia lên trên quyền lợi của bản thân, để xây dựng mối đoàn kết “anh em một nhà”. Sự hoà thuận “đồng tâm hiệp lực” giữa Thượng tướng Trần Quang Khải và Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn có ảnh hưởng rất tích cực đến tinh thần chiến đấu của tướng sĩ và góp phần quan trọng đến sự thắng lợi của cuộc kháng chiến. Đồng thời, Trần Hưng Đạo cũng rất chú trọng tập hợp bên mình những nhân sĩ tài giỏi và trung thành, và đã có công lao lớn trong việc đánh giặc cứu nước, như: Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực… Khi trả lời vua Trần Anh Tông, Trần Hưng Đạo đã đúc kết nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông, trong đó ông nhấn mạnh vai trò của mối đoàn kết dân tộc: “Vì vua tôi đồng tâm, anh em hoà mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt…”(Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ nhà Trần). Và khi căn dặn vua Trần trong việc giữ gìn bờ cõi mai sau, một lần nữa ông lại nhắc đến sức mạnh của sự đoàn kết: “Có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được”…


Chiến thắng của quân dân Đại Việt trước quân Nguyên – Mông xâm lược ở thế kỷ 13 là bản anh hùng ca của thời đại, trong đó góp phần quan trọng làm nên thắng lợi là vai trò chỉ huy, tổ chức chiến đấu của nhà quân sự lỗi lạc Trần Quốc Tuấn, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến lần 2 (1285) và lần 3 (1287 – 1288). Với tài năng quân sự kiệt xuất, ông đã sáng tạo ra nghệ thuật đánh giặc tài tình và tổ chức, chỉ đạo thắng lợi cuộc kháng chiến, để lại dấu ấn riêng trong lịch sử quân sự Việt Nam và thế giới. Nếu như ở thế kỷ 11, Lý Thường Kiện dùng kế “tiên phát chế nhân” – chủ động tiến công nhằm hạn chế sức mạnh của giặc, để phá tan kế hoạch xâm lược của nhà Tống; ở thế kỷ 15, Lê Lợi đưa cuộc kháng chiến từ địa phương phát triển rộng ra toàn quốc, dồn đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi và ở thế kỷ 18, Quang Trung đánh “thần tốc”, bất ngờ khiến quân Thanh không kịp trở tay, thì Trần Hưng Đạo lại kết hợp linh hoạt giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy khi tổ chức những cuộc rút lui chiến lược nhằm tránh nhuệ khí của giặc, bảo toàn lực lượng rồi đánh du kích, triệt phá lương thực và tiêu hao sinh lực địch, chờ thời cơ thuận lợi phản công quyết liệt, giành thắng lợi quyết định. Thực hiện kế hoạch của Trần Hưng Đạo, nhân dân cả nước tiến hành “vườn không nhà trống”, cất giấu lương thảo, của cải, tự vũ trang đánh giặc, hăng hái tổ chức các đội dân binh phối hợp chiến đấu với quân triều đình, làm cho quân Nguyên thường xuyên lâm vào thế bị động, thiếu lương thực, phân tán lực lượng và cuối cùng bị đánh bại.


Trần Hưng Đạo từng nói: “Bậc thánh võ trị đời, đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có luỹ, chiến ở chỗ không có trận, nhẹ nhàng như mưa rơi trên không, dựng lên cuộc đời vô sự…”(Binh thư yếu lược, NXB KHXH, 1970, trang 39). Trong hai lần lãnh đạo quân dân Đại Việt kháng chiến chống Nguyên – Mông, Trần Hưng Đạo rất ít khi bày binh bố trận, đối luỹ đánh nhau trực diện với kẻ thù thiện chiến và hung hãn, mà ông thường tổ chức những trận đánh nhỏ lẻ rồi rút lui, để vừa tránh nhuệ khí đang mạnh của giặc và vẫn bảo toàn lực lượng của quân đội nhà Trần, đồng thời khiến kẻ thù càng chủ quan, kiêu ngạo mà không phòng bị, như trong cuộc kháng chiến lần 2 (1285), trước 50 vạn quân Nguyên, Trần Hưng Đạo đã cho quân rút lui từ biên giới về Vạn Kiếp, rồi về Thăng Long và về Thiên Trường. Để chiến thắng được quân Nguyên – Mông đông và tinh nhuệ hơn nhiều lần, Trần Hưng Đạo đã chủ trương: “Bỏ chỗ thực mà đánh chỗ hư, đó là cái điệu của việc binh” (Binh thư yếu lược, NXB KHXH, 1970, trang 190). Sau thời gian đầu dùng chiến thuật đánh du kích, quân Đại Việt tiến hành những cuộc phản công quyết liệt khi quân Nguyên đã tiêu hao một phần sinh lực, tinh thần chiến đấu giảm sút. Về chỉ huy đánh tập trung, Trần Hưng Đạo cũng rất tài tình trong tổ chức các cuộc phản công chiến lược để nhanh chóng kết thúc chiến tranh, như trong cuộc phản công năm 1285, ông đã tổ chức 2 đạo quân lớn, đánh đồng thời Thoát Hoan ở Thăng Long và Toa Đô ở Tây Kết (thuộc Hưng Yên ngày nay) khiến quân giặc không kịp trở tay và không còn khả năng cứu viện cho nhau.


Nói tóm lại, sự đúng đắn và tài tình trong cách đánh giặc của Trần Hưng Đạo thể hiện ở chỗ: tránh điểm mạnh mà đánh vào điểm yếu của giặc; biết phát huy điểm mạnh, lợi thế của đất nước, của quân đội và nhân dân ta, buộc quân Nguyên phải đánh theo cách đánh của ta đã chuẩn bị trước; buộc giặc từ thế mạnh chuyển sang thế yếu, từ chủ động thành bị động rồi tiêu diệt chúng…


Tư tưởng “lấy dân làm gốc” và đoàn kết dân tộc cùng những tư tưởng quân sự về chiến tranh du kích, chiến tranh toàn dân… của Anh hùng Trần Hưng Đạo đã được dân tộc ta phát triển, vận dụng trong việc đánh giặc ngoại xâm ở những giai đoạn sau này. Những tư tưởng chính trị và lý luận quân sự đó mãi mãi là những “viên ngọc sáng” trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta…

TRẦN VĂN LỢI


 

dcttkn70ctvnn