0985.456.616

Thứ 6, 16/11/2018

htnndlllcc

Home Văn hoá - Thể thao Chuyện về người tìm thấy ánh sáng từ âm thanh

Chuyện về người tìm thấy ánh sáng từ âm thanh

Khi còn ở tuổi ấu thơ thì Trần Đức Chinh đã chìm trong bóng tối, bởi bệnh sởi biến chứng đã cướp đi ánh sáng cuộc đời. Nhưng suốt bảy mươi năm trong màn đêm nhập nhoạng ấy, con người vẫn tìm ra nguồn sáng bằng một thần dược khác. Đó chính là âm thanh của những nốt đàn dân tộc diệu kỳ…


Tuổi thơ tật nguyền

 

Trước cảnh con trai bị lòa từ khi mới 4 tuổi, người cha đau xót vô cùng. Ban đầu ông đã tính cho con học nghề thầy bói để sau này có chỗ độ thân. Nhưng nghĩ lại, nghề ấy tuy kiếm được tiền nhưng đen bạc, rủi ro, lại bị thiên hạ cười chê. Vì vậy, khi Trần Đức Chinh vừa 8 tuổi, người cha đưa con đi xin học nghề đánh đàn. Ngày ấy, trong xã có anh Ngô Xuân Tiến, dân gọi là Kép Tiến đang chơi nhị trong một gánh hát rong. Kép Tiến nhận lời chỉ vì thương tâm chứ cũng không tin tưởng. Thầy Tiến dạy trò cách ngồi, cách cầm nhị, kéo thành tiếng. Thầy giao bài cho về nhà tập, rồi hôm sau đến trả bài. Ngày ấy, cậu Chinh được học các làn điệu tuồng cổ. Ai ngờ chỉ một tháng, Chinh chơi được câu “nói lối” khá hay. Thầy Tiến mừng lắm, nghĩ bụng: Người mù còn sáng dạ hơn cả người lành.

 

Trong số phận của những kẻ không may khuyết tật, thiệt thòi nhất là người khiếm thị. Việc đi lại, sinh hoạt vô vàn phức tạp, khó khăn. Cổ nhân bảo “Giàu hai con mắt, khó đôi bàn tay” là thế.

 

Làng Hàm Hy, xã Cộng Lạc, huyện Tứ Kỳ, cách tỉnh lỵ Hải Dương 30 cây số, thuộc loại vùng sâu, vùng xa của tỉnh, của huyện. Nửa thế kỷ trước còn là vùng chiêm khê mùa thối. Câu ca “Mắt toét chân chì, không Tứ Kỳ thì Gia Lộc” là nói đến vùng quê nghèo , lụt lội quanh năm.

 

Sinh ra trong gia đình nông dân nghèo có 7 anh em, 5 trai 2 gái, nhưng cha mẹ anh Chinh vẫn cho các con ăn học, mỗi người mỗi nghề nhưng chẳng có ai theo đường nghệ thuật, chỉ mình anh Chinh theo nghiệp cầm ca, đánh đàn. Dẫu vậy, ông trời đã ban cho Chinh một năng khiếu tuyệt vời. Chỉ 1-2 tháng đi theo học thầy Tiến, mà Đức Chinh chơi được khá nhiều điệu tuồng cổ: như Nam xuân, Nam ai, Phụng hoàng, Ngũ điểm, Sương chiều, Xang xừ líu…

 

Năm 1958, thầy Tiến chuyển sang dạy các làn điệu dân ca bắc trung nam cho học trò. Đủ cả các điệu hò, điệu lý, hát ống, hát đúm, trống quân, cò lả… Chinh đều nhập tâm, chơi thành thạo. Hải Dương là nôi chèo, có phong trào hát chèo, từ năm 1960, thầy Tiến chuyển sang dạy trò các làn điệu chèo: Lới lơ, Luyện năm cung, Sử bằng, Sử chuyện.……

 

Cuộc kháng chiến chống Mỹ lan ra miền Bắc, phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” phát triển và lan rộng ra cả nước. Các xã trong tỉnh đều có đội văn nghệ cơ sở phục vụ phong trào “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”… Có một dạo trên Đài Tiếng nói Việt Nam, vở chèo “Đường về trận địa” phát nhiều lần, gây xúc động thính giả.        

 

Những năm ấy, Ty văn hoá Hải Dương còn mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho các hạt nhân cơ sở, ngắn thì một tháng, dài thì 3 tháng. Các xã cử người về học. Anh Chinh bao giờ cũng được về dự và thành tích học tập luôn dẫn đầu cả lớp.

 

Hạnh phúc đời thường

 

Ngoài ba mươi tuổi, anh Chinh lấy vợ. Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh. Chị Lê Thị Viết, người thị trấn Tứ Kỳ cùng huyện, kém chồng hơn một giáp. Ngày còn nhỏ, Viết trèo mít tuột tay bị ngã, sai khớp háng. Cảnh nghèo không ai bảo ban đi rút lại khớp, sau này đã để lại cảnh tật nguyền, sinh hoạt, lao động gặp không ít khó khăn…

 

Nhưng tạo hóa vẫn có luật bù trừ và vạn vật thích nghi môi trường sống. Đôi vợ chồng người khiếm thị đã bù trừ, bổ sung cho nhau trên chặng đường mưu sinh để tồn tại. Bốn đứa con, hai trai hai gái lần lượt ra đời. Trong làng chẳng thiếu lời thị phi, xa xôi bóng gió: “Người lành lặn làm vật vã còn không đủ ăn, huống chi vợ què, chồng mù lại sòn sòn thế kia, rồi trắng mắt ra!” Nghe thế, vợ chồng anh nín lặng, âm thầm lao động nuôi con, trong lòng vẫn nuôi dưỡng niềm tin. Họ vẫn lao động trong Hợp tác xã nông nghiệp, vẫn nhận hàng mẫu ruộng, tảo tần trồng cấy, chăn nuôi, nộp thuế, làm tròn nghĩa vụ giao nộp sản phẩm và nuôi con cho đến lúc trưởng thành. Tích cóp tiền mua đất, xây nhà cấp 4, định hướng các con phấn đấu học tập bằng chị bằng em.

 

Bây giờ người con trai cả Trần Mạnh Hà đang là sĩ quan quân đội, công tác tại Phòng Chính trị, Bộ Tham mưu Quân khu 3. Con trai út Trần Văn Xâm mang gien của cha, từ 4-5 tuổi đã được bố truyền cho niềm đam mê âm nhạc. Vừa 7 tuổi, Xâm thi vào Trường âm nhạc Hà Nội, đỗ liền. Thế là 15 năm con thoát ly gia đình, sống tự lập ở thủ đô Hà Nội, vừa học chữ, vừa học nghề. 22 tuổi tốt nghiệp đại học, nay là giảng viên khoa Nhạc cụ dân tộc, Học viện âm nhạc Quốc gia. Con gái lớn học hết lớp 12, rồi đi làm; con gái thứ 2 là giáo viên cấp 3 huyện Ninh Giang. Cô con dâu cũng là giáo viên cấp 3 trường Cầu Xe, huyện Tứ Kỳ. Có người đếm rằng: Gia đình ông Chinh, chỉ kể anh em ruột thịt, các con trai, gái dâu rể, tất thảy hơn chục người, thì có 4 người tham gia lực lượng vũ trang (trong đó có một liệt sĩ); 4 người là giáo viên, từ bậc phổ thông đến đại học, chỉ có ông Chinh khiếm thị ở làng, gắn bó với phong trào văn nghệ cơ sở, với âm thanh của nhạc cụ dân tộc.

 

Tìm thấy ánh sáng từ âm thanh dân tộc

 

Hầu như những kỳ hội diễn văn nghệ ở huyện, tỉnh ông đều có mặt. Khi thì với vai trò nhạc công, chơi trong dàn nhạc cho các con cháu biểu diễn, khi thì với tư cách diễn viên độc tấu nhạc cụ. Có lần ông Chinh dò dẫm bước ra sân khấu, vừa đàn hát một khúc hát văn, làm xúc động lòng người…. Chỉ tính riêng 4 lần tham gia hội diễn ca múa nhạc không chuyên Toàn quốc do Bộ Văn hoá TT DL tổ chức , ông mang về 4 tấm Huy chương vàng. Vậy mà đến bây giờ vẫn chưa có một danh hiệu xứng đáng nào dành cho ông.

 

Mấy ai ngờ rằng, những năm chống Mỹ , ông Chinh được Phòng Văn hoá huyện Tứ Kỳ hợp đồng thời vụ để dạy các lớp bồi dưỡng nhạc công cho cơ sở. Thế là người mù dạy người sáng. Mắt kém, ông có cách riêng để kiểm tra tay nghề, trình độ khả năng từng người học viên và phân nhóm. Ông chú ý lắng nghe, tiếng đàn của từng người rồi uốn nắn, hướng dẫn tỉ mỉ. Ông không chỉ truyền dạy cho họ cách chơi từng làn điệu mà còn biết cách dạo nhạc nền cho những hoạt cảnh chèo. Cứ thế, mỗi tháng tổ chức một lớp. Sau mấy chục năm làm giáo viên truyền nghề, ông lại có tới mấy trăm lượt học viên biết chơi nhạc cụ dân tộc, có người sau này thành danh.

 

Làm được những công việc như thế là bởi ông Chinh thời trai trẻ chịu khó học chữ nổi (Braille). Ông nhận mình có trình độ hết cấp 2, biết soạn giáo án bằng chữ Braille hướng dẫn các học viên. Vì vậy, 11 năm liền (1999- 2010) ông giữ chức vụ Chủ tịch Hội người mù huyện Tứ Kỳ.

 

Bây giờ ông Trần Đức Chinh đã vào tuổi 75, tuy gày gò nhưng da dẻ đỏ đắn, giọng nói khúc chiết, đặc biệt tay đàn vững chắc. Ông sống với người vợ tảo tần trong ngôi nhà xây khang trang sạch sẽ. Trên tường treo nhiều giấy khen và huy chương, đánh dấu những tháng ngày hoạt động xã hội của quê hương. Từ ngày có chính sách trợ cấp người tàn tật, vợ chồng ông được nhận 900 nghìn đồng hàng tháng . Ông sống vui, sống khỏe có ích giữa cộng đồng, giữa gia đình, con cháu . Chuyện về ông, nghe thật cảm động

 

Thì ra ánh sáng không phải từ đôi mắt, mà nó toả ra từ âm thanh, đặc biệt với ông Chinh, ánh sáng tỏa ra từ âm thanh những nhạc cụ dân tộc.!

Khúc Hà Linh