1

Thứ 5, 19/07/2018

hoctapvltbh

Quay về Bạn đang ở trang: Home Nội dung khác Văn nghệ - Thể thao Viếng chồng - câu chuyện thấm đẫm “vị nhân sinh”

Viếng chồng - câu chuyện thấm đẫm “vị nhân sinh”

 

 

- Chị ơi !...

Chỉ gọi được thế thôi

Anh chiến sĩ đưa đường bỗng thấy nghẹn lời

Không làm sao anh còn nói nổi:

Chị đặt hoa nhầm rồi

Mộ anh ấy ở bên tay trái

Chỉ có một vòng hoa chị mang từ quê lại

Hoa viếng mộ bên này đã có chúng tôi!

 

- Chị hiểu ý em rồi

Xin cho chị đặt hoa bên mộ đó

Cả cánh rừng chỉ có hai ngôi mộ

Viếng mộ anh có chị đến đây rồi

Trần Ninh Hồ

 

Hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2017) tôi lại tìm đọc những bài viết xúc động về đề tài này như là một sự tri ân đối với các bậc tiền nhân đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Có nhiều bài thơ lay động lòng người về đề tài thương binh, liệt sỹ của các thế hệ nhà thơ Việt Nam, song hiếm có tác phẩm nào vừa đạt đến độ dung dị, cô đọng, lại vừa dào dạt, dồn nén cảm xúc đến mức độc đáo như bài thơ “Viếng chồng” của nhà thơ Trần Ninh Hồ, trích trong tập “Mưa đền cây” – Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành năm 1997.


Tiếng gọi nghẹn lời “Chị ơi!...” của người chiến sĩ đưa đường đã mở đầu cho bài thơ với chỉ hai từ và dấu “...” tạo ra khoảng trống ngôn từ, định hình nên sự mênh mông của một không gian linh thiêng mà trầm lắng, sâu thẳm mà thấm đẫm tình người. Thế giới tâm linh như được kết nối với thế giới siêu thực bởi một sợi dây vô hình là “tình người”. Tôi chợt nhớ đến câu thơ “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/Đáy sông còn đó bạn tôi nằm” trong bài “Lời gọi bên sông” mà nó còn có tên thường gọi là “Đò lên Thạch Hãn” của tác giả Lê Bá Dương. Cách gọi “con đò” của Lê Bá Dương như gọi người, vừa ẩn dụ xa xăm, vừa đau đáu nỗi niềm. Còn ở đây là lời gọi tại thực địa như là lời thủ thỉ, ngắt quãng bởi tiếng nấc dâng lên tự đáy lòng đến “nghẹn lời”: “Chị ơi !.../Chỉ gọi được thế thôi/Anh chiến sĩ đưa đường bỗng thấy nghẹn lời/Không làm sao anh còn nói nổi:”.


Chứng kiến một cảnh tượng khó xử, anh chiến sĩ chỉ kịp thốt lên: “Chị đặt hoa nhầm rồi/Mộ anh ấy ở bên tay trái/Chỉ có một vòng hoa chị mang từ quê lại/Hoa viếng mộ bên này đã có chúng tôi! Để rồi, anh chiến sỹ tự nhận trách nhiệm về mình thay cho sự ái ngại...


8 câu thơ đầu dẫn ra tình huống cụ thể mà dường như cứ đến dịp 27/7 là cả nước đều hướng về, đều có những việc làm tri ân, thăm viếng. Nói về người mẹ, người vợ sau chiến tranh thì cố nhạc sỹ Tân Huyền đã từng viết “Người vợ nào, người mẹ nào ngậm ngùi nuốt lệ khi chồng con không trở về”… trong ca khúc “Cỏ non Thành Cổ”. Nhưng ở đây một tình huống rất cụ thể, rất đời thường và được kết cấu hay ở chỗ không chỉ dừng lại ở việc người mẹ, người vợ “ngậm ngùi nuốt lệ” mà người vợ trong bài thơ này đã lên đường đi tìm, viếng mộ chồng. Trong đời thực thân nhân đi thăm viếng liệt sỹ mà nhầm mộ cũng là chuyện không hiếm, nhưng đưa vào cái hoàn cảnh éo le người vợ đi thăm mộ chồng, đặt nhầm vòng hoa viếng thì đây là sự việc khá hy hữu. Nhưng nó còn hy hữu hơn bởi câu chuyện giữa hai người vừa lặng xoáy quặn vào lòng người nỗi đau mất mát, rồi lại mở ra một thế giới quan “vị nhân sinh” đầy lòng trắc ẩn qua câu thoại ý nhị đến tinh tế của người vợ liệt sĩ: “- Chị hiểu ý em rồi / Xin cho chị đặt hoa bên mộ đó / Cả cánh rừng chỉ có hai ngôi mộ / Viếng mộ anh có chị đến đây rồi”. Đẩy tình huống lên kịch tính, rồi giải quyết tình huống một cách khéo léo, nhân văn, tác giả đã tạo nên một “xung động” tình cảm trong lời thoại của người vợ trả lời anh chiến sĩ mà như nói với người nằm dưới cỏ.


Trong bài “Viếng bạn” của Hoàng Lộc là tiếng lòng day dứt ...“Khóc anh không nước mắt/ Mà lòng đau như thắt/ Gọi anh chửa thành lời/ Mà hàm răng dính chặt”... Còn “Viếng chồng” của Trần Ninh Hồ là không chỉ viếng chồng mà còn viếng luôn người đồng đội của chồng khi cả cánh rừng chỉ có hai ngôi mộ. Ở đây, có thể chăng, sự nhầm lẫn đã trở nên cố hữu khi chị mở lời “Xin cho chị đặt hoa bên mộ đó”, để rồi với bàn tay trắng và tấm lòng thủy chung, nhân hậu, bao dung để tâm giao với người chồng nằm dưới cỏ “Viếng mộ anh có chị đến đây rồi”. Tình đồng chí, nghĩa đồng đội được người vợ nâng niu, trân quý, sẵn sàng chia sẻ để ấm lòng những người nằm dưới mộ. Lời thơ toát lên hình ảnh động, đẹp, lạ mà không phải bất cứ ai cũng làm được như vậy, nhất là trong thời buổi này, giá trị vật chất đang lấn lướt giá trị nhân văn thì bài thơ như là lời nhắc nhớ về sự sẻ chia tình người.


Được khái quát trong 12 câu thơ, theo thể thơ tự do, bài thơ đậm chất văn xuôi tự sự như một câu chuyện kể có sức nặng lay động lòng người mà bất cứ ai bắt gặp đều ngân rung miền xúc cảm. Phải chăng tác giả Trần Ninh Hồ đã từng đắm mình trong cái “tình đồng chí, nghĩa đồng đội”, đã từng “nhường cơm, sẻ áo, chia lửa chiến trường” mà những người lính trận mạc thường làm nên mới cất tiếng lòng thay lời người vợ trong xử lý tình huống ý nhị đến độ tinh tế đến thế. Kết thúc câu chuyện thấm đẫm tình người nhân hậu, tác giả Trần Ninh Hồ đã khơi gợi nốt trầm “dung dị mà sâu thẳm” để khái quát phẩm chất cao quý, để tôn vinh hình ảnh người phụ nữ Việt Nam. Và cũng phải chăng, qua bài thơ này tác giả còn muốn gửi gắm thêm một lời nhắn nhủ chúng ta rằng xin đừng quên một nấm mộ nào mỗi khi đến thăm viếng! Và qua đó, Trần Ninh Hồ cũng muốn thắp lên niềm hy vọng, thể nguyện tri ân với các liệt sĩ rằng những người lính đã hi sinh vì đất nước không bao giờ cô đơn trong vòng tay thân thương của mọi người, của đất mẹ Tổ quốc.

                                                                                                 Đàm Tuấn Đạt

 

dctttt70nndmmckkdjccc